Cho em hỏi, sau khi ly hôn theo bản án của Tòa thì người cha phải cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng. Tuy nhiên, đến nay con em đã 12 tuổi mà em vẫn chưa nhận được khoản tiền cấp dưỡng nào từ người cha. Vậy em cần liên hệ với cơ quan nào để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng và bảo đảm quyền lợi của con ạ?
Trong thực tế, không ít trường hợp sau khi ly hôn, người cha không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo bản án hoặc quyết định của Tòa án. Vậy khi người cha không cấp dưỡng trong nhiều năm, người mẹ cần liên hệ cơ quan nào để yêu cầu thi hành án và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của con?
Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định:
Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
Điều 110. Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con
Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.
Theo đó, cha/mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Việc không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo bản án hoặc quyết định của Tòa án không làm chấm dứt nghĩa vụ này khi con chưa thành niên.
Trong trường hợp này, bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, xác định người mẹ trực tiếp nuôi con và người cha có nghĩa vụ cấp dưỡng 1.500.000 đồng/tháng nhưng người cha không thực hiện nghĩa vụ trong suốt thời gian dài, người mẹ có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tổ chức thi hành phần nghĩa vụ cấp dưỡng theo bản án nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của con.
Theo Điều 2 Luật THADS 2025 và khoản 2 Điều 482 BLTTDS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), bản án về cấp dưỡng thuộc trường hợp được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, khiếu nại, kháng nghị, kiến nghị.
Thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.
Trường hợp người yêu cầu thi hành án chứng minh được do tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời gian có tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án. (Căn cứ khoản 2 Điều 34 Luật THADS 2025) Nếu không còn cơ sở chứng minh trở ngại khách quan, người được thi hành án vẫn có thể chủ động làm việc, thỏa thuận để người phải thi hành án tự nguyện trả tài sản/thực hiện
Hồ sơ cần có bản án hoặc quyết định của Tòa án, đơn yêu cầu thi hành án, giấy tờ tùy thân và thông tin về nơi cư trú, nơi làm việc, thu nhập hoặc tài sản của người cha (nếu có).