Người chứng kiến quay cảnh bạo hành có trách nhiệm thế nào
Trong vụ việc tại chùa Bầu, có tranh luận về việc một người chứng kiến quay lại cảnh trẻ em bị bạo hành nhưng không can thiệp. Xin luật sư cho biết, việc chỉ ghi hình mà không ngăn chặn hành vi bạo lực có làm phát sinh trách nhiệm pháp lý đối với người quay hay không? Trách nhiệm của người chứng kiến khi phát hiện trẻ em bị xâm hại được pháp luật quy định như thế nào?
Thạc sỹ, Luật sư Phạm Thị Bích Hảo, Công ty luật TNHH Đức An, Uỷ viên BCH Hội bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam
Đối với việc chỉ ghi hình mà không có hành vi bảo vệ trẻ em thì chưa thể kết luận ngay, người quay clip có phạm tội hay không, bởi cần làm rõ nhận thức của người quay video trong tình huống cụ thể đó ra sao, có biết trẻ đang bị bạo hành nghiêm trọng hay không, có khả năng can thiệp hoặc gọi người hỗ trợ không và sau khi quay clip đã có hành động gì? Nếu người quay phim tình cờ chứng kiến, dùng điện thoại ghi lại để làm bằng chứng, sau đó cung cấp clip cho cơ quan chức năng hoặc người có trách nhiệm bảo vệ trẻ em thì về nguyên tắc không đủ căn cứ để xử lý hình sự chỉ vì hành vi quay phim.
Điều 6 Luật Trẻ em 2016 nghiêm cấm các hành vi bạo lực, lạm dụng, bóc lột trẻ em và nghiêm cấm hành vi không cung cấp hoặc che giấu, ngăn cản việc cung cấp thông tin về trẻ em bị xâm hại hoặc trẻ em có nguy cơ bị bóc lột, bị bạo lực cho gia đình, cơ sở giáo dục, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền.
Đối với hình ảnh, video về hành vi xâm hại trẻ em, người chứng kiến nên bảo quản nguyên trạng và cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu, không tự ý chỉnh sửa, cắt ghép hoặc phát tán lên mạng xã hội. Việc tùy tiện đăng mạng xã hội hình ảnh, thông tin nhận diện của trẻ có thể xâm phạm quyền bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em và làm gia tăng tổn thương đối với nạn nhân vi phạm quy định tại điều 16 Luật an ninh mạng 2025.
Đáng lưu ý, Nghị định số 98/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 16/5/2026 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em. Theo Điều 29 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP, hành vi không thông báo, không cung cấp hoặc che giấu thông tin về trẻ em có nguy cơ bị bóc lột, bạo lực hoặc xâm hại khác cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, nếu chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Đối với một số hành vi như không cung cấp hoặc che giấu thông tin về trẻ em đã bị xâm hại; không thông báo cho nơi tiếp nhận thông tin về hành vi xâm hại trẻ em hoặc ngăn cản việc cung cấp thông tin về trẻ em bị xâm hại, mức phạt có thể lên tới 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng, tùy hành vi cụ thể theo quy định tại Điều 29 Nghị định này.
Từ vụ việc xảy ra tại chùa Bầu, có thể thấy khi phát hiện trẻ em bị bạo hành, không nên chỉ đứng quay phim để ghi nhận sự việc sau đó đăng lên nền tảng mạng xã hội. Trường hợp không thể trực tiếp can thiệp một cách an toàn, cần thông báo cho UBND cấp xã hoặc cơ quan công an cấp xã hoặc tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111. Hình ảnh, video đã ghi nhận nên được bảo quản nguyên trạng và cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền, qua đó vừa bảo vệ an toàn cho trẻ, vừa góp phần bảo đảm nguồn chứng cứ phục vụ việc xác minh và xử lý vụ việc theo quy định pháp luật.
Công ty luật TNHH Đức An
VĂN PHÒNG GIAO DỊCH: Số 64b, phố Nguyễn Viết Xuân, phường Phương Liệt, Hà Nội
Giám đốc Luật sư Phạm Thị Bích Hảo
Liên hệ luật sư 090 220 1233
Web: www.luatducan.vn
Youtube: Luật sư Phạm Thị Bích Hảo
Email: luatsubichhao@gmail.com