Công văn 1476/VKSTC-V9 giải đáp vướng mắc về kiểm sát việc thi hành án bản án tuyên hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu
Trong Công văn 1476/VKSTC-V9 giải đáp vướng mắc về kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, VKSND tối cao đã giải đáp vướng mắc liên quan đến việc thi hành bản án tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu trong trường hợp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) đã được cấp cho người nhận chuyển nhượng, nhưng cơ quan có thẩm quyền cho rằng không có cơ sở pháp lý để chỉnh lý biến động khi GCNQSDĐ vẫn do người khác đang giữ, dẫn đến việc đương sự phải khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu hủy GCNQSDĐ hoặc buộc thực hiện hành vi hành chính.
Cụ thể: “Theo hướng dẫn tại Mục II.2 Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của TANDTC thì Toà án không tuyên hủy GCNQSDĐ đã cấp cho người nhận chuyển nhượng khi hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu mà chỉ kiến nghị cơ quan có thẩm quyền hủy GCNQSDĐ hoặc hủy phần đăng ký biến động nhưng cơ quan có thẩm quyền cho rằng không có cơ sở pháp lý để chỉnh lý khi GCNQSĐĐ vẫn do người khác giữ dẫn đến việc đương sự phải khởi kiện thêm vụ án hành chính yêu cầu hủy GCNQSDĐ hoặc buộc thực hiện hành vi hành chính.”
VKSTC căn cứ Mục II.2 Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của TANDTC, theo đó khi giải quyết tranh chấp về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất mà hợp đồng bị tuyên vô hiệu nhưng người nhận chuyển quyền đã được cấp GCNQSDĐ hoặc đã được xác nhận đăng ký biến động thì Tòa án không đưa cơ quan có thẩm quyền cấp giấy tham gia tố tụng và không tuyên hủy GCNQSDĐ. Sau khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, Văn phòng đăng ký đất đai và cơ quan tài nguyên và môi trường có trách nhiệm căn cứ vào nội dung bản án để thực hiện việc điều chỉnh biến động hoặc cấp lại GCNQSDĐ theo đúng kết quả giải quyết của Tòa án.
Đồng thời, Điều 152 Luật Đất đai năm 2024 đã quy định cụ thể, đầy đủ về căn cứ, trình tự và thẩm quyền thu hồi, hủy GCNQSDĐ trong trường hợp có bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Cụ thể, điểm a khoản 3 Điều 152 quy định trường hợp bản án, quyết định của Tòa án có nội dung về thu hồi GCNQSDĐ thì cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện thu hồi theo đúng nội dung bản án, quyết định: “3. Việc thu hồi giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều này mà không thuộc khoản 4 Điều này được thực hiện theo quy định sau đây: ..a). Trường hợp Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai có bản án, quyết định có hiệu lực thi hành, trong đó có kết luận về việc thu hồi giấy chứng nhận đã cấp thì việc thu hồi giấy chứng nhận đã cấp được thực hiện theo bản án, quyết định đó.”
Khoản 5 Điều 152 tiếp tục xác định việc thu hồi GCNQSDĐ đã cấp được thực hiện khi có bản án, quyết định đã được thi hành hoặc văn bản kiến nghị của cơ quan thi hành án có nội dung yêu cầu thu hồi giấy chứng nhận. Trường hợp người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không giao nộp GCNQSDĐ thì theo khoản 6 Điều 152, cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận được quyền quyết định hủy GCNQSDĐ đã cấp. Sau khi thực hiện thu hồi hoặc hủy, việc cấp lại GCNQSDĐ được thực hiện theo khoản 7 Điều 152.
“5. Việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất...đã cấp không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này chỉ được thực hiện khi có bản án hoặc quyết định của Tòa án đã được thi hành hoặc văn bản kiến nghị của cơ quan thi hành án về việc thi hành bản án, quyết định theo quy định của pháp luật, trong đó có nội dung yêu cầu thu hồi giấy chứng nhận đã cấp.
6. Trường hợp thu hồi giấy chứng nhận đã cấp theo quy định tại khoản 2 và khoản 5 Điều này mà người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không giao nộp giấy chứng nhận đã cấp thì cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất quy định tại Điều 136 của Luật này quyết định hủy giấy chứng nhận đã cấp.
7. Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất quy định tại Điều 136 của Luật này thực hiện việc cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật sau khi thu hồi giấy chứng nhận đã cấp”.
Như vậy, có thể thấy pháp luật đất đai hiện hành đã dữ liệu đầy đủ các trường hợp phát sinh trong thực tiễn thi hành án, bao gồm cả trường hợp người đang giữ GCNQSDĐ không giao nộp giấy chứng nhận. Do đó, việc cơ quan có thẩm quyền cho rằng không có cơ sở pháp lý để thực hiện chỉnh lý biến động chỉ vì người khác đang giữ GCNQSDĐ là không phù hợp với quy định của Luật Đất đai năm 2024.
Từ đó, VKSTC yêu cầu Viện kiểm sát khi kiểm sát việc giải quyết vụ án cần chủ động đối chiếu đầy đủ quy định pháp luật và hướng dẫn của TANDTC để kiến nghị Tòa án trong bản án, quyết định phải thể hiện rõ một trong các nội dung: tuyên hủy GCNQSDĐ hoặc kiến nghị thu hồi GCNQSDĐ. Đồng thời, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc thu hồi, hủy hoặc cấp lại GCNQSDĐ theo đúng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; trường hợp không thực hiện việc thu hồi thì áp dụng cơ chế hủy theo thẩm quyền để bảo đảm thi hành án. Qua đó, bảo đảm hiệu lực thực tế của bản án dân sự, hạn chế phát sinh việc đương sự phải khởi kiện thêm vụ án hành chính, gây kéo dài quá trình giải quyết tranh chấp.
Công ty luật TNHH Đức An
VĂN PHÒNG GIAO DỊCH: Số 64b, phố Nguyễn Viết Xuân, phường Phương Liệt, Hà Nội
Giám đốc Luật sư Phạm Thị Bích Hảo
Liên hệ luật sư 090 220 1233
Web: www.luatducan.vn
Youtube: Luật sư Phạm Thị Bích Hảo
Email: luatsubichhao@gmail.com