Thông tư liên tịch 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP
Ngày 28/01/2026, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã ký ban hành Thông tư liên tịch số 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP, có hiệu lực từ ngày 15/03/2026 thay thế Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP quy định nhiều nội dung mới liên quan đến tăng cường quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố vụ án hình sự, góp phần bảo đảm việc giải quyết các vụ việc, vụ án đúng pháp luật, khách quan, toàn diện
Về một số điểm thay đổi so với Thông tư liên tịch số 04/2018, Thông tư liên tịch số 01/2026 bổ sung thêm đối tượng áp dụng là Điều tra viên trung cấp, cao cấp giữ chức vụ Trưởng hoặc Phó trưởng Công an cấp xã được cấp trên phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án. Thông tư cũng quy định cụ thể hơn về thời gian trong quá trình phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện Kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố. Ngoài ra, có một số điểm có thể lưu ý về cách áp dụng các biện pháp ngăn chặn được quy định tại Thông tư liên tịch như sau
Về biện pháp bảo lĩnh, theo quy định tại Điều 21 của Thông tư
1. Trường hợp Cơ quan điều tra quyết định cho bị can được bảo lĩnh thì ngay sau khi ra quyết định áp dụng biện pháp bảo lĩnh, Cơ quan điều tra có văn bản nêu rõ lý do, kèm theo chứng cứ, tài liệu gửi Viện kiểm sát cùng cấp đề nghị xét phê chuẩn.
Hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn quyết định về việc bảo lĩnh gồm:
a) Văn bản đề nghị xét phê chuẩn và quyết định áp dụng biện pháp bảo lĩnh;
b) Giấy cam đoan có xác nhận của người đứng đầu cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh đối với trường hợp cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh cho bị can;
c) Giấy cam đoan có xác nhận của UBND cấp xã nơi người nhận bảo lĩnh cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người nhận bảo lĩnh làm việc, học tập đối với trường hợp cá nhân nhận bảo lĩnh cho bị can (phải có giấy cam đoan của ít nhất 02 người bảo lĩnh);
d) Giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ của bị can được bảo lĩnh theo các nội dung quy định tại khoản 3 Điều 121 Bộ luật Tố tụng hình sự;
e) Chứng cứ, tài liệu về hành vi phạm tội, nhân thân của bị can để xác định tính chất, mức độ hành vi của bị can không cần thiết phải áp dụng biện pháp tạm giam.
2. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cùng cấp phải ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn hoặc có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung chứng cứ, tài liệu để xét phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp bảo lĩnh.
Với biện pháp đặt tiền để bảo đảm, Điều 22 quy định
1. Trường hợp Cơ quan điều tra quyết định cho bị can hoặc người thân thích của bị can được đặt tiền để bảo đảm, thì ngay sau khi ra quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm, Cơ quan điều tra có văn bản nêu rõ lý do, kèm theo chứng cứ, tài liệu gửi Viện kiểm sát có thẩm quyền đề nghị xét phê chuẩn.
Hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm gồm:
a) Văn bản đề nghị xét phê chuẩn và quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm;
b) Chứng cứ, tài liệu thể hiện tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can;
c) Tài liệu xác định bị can hoặc người thân thích của bị can đã đặt tiền để bảo đảm;
d) Giấy cam đoan của bị can về việc cam đoan thực hiện các nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 122 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
e) Giấy cam đoan của người thân thích của bị can theo quy định tại khoản 5 Điều 122 của Bộ luật Tố tụng hình sự đối với trường hợp người thân thích của bị can đặt tiền để bảo đảm.
2. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền phải ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn hoặc có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung chứng cứ, tài liệu để xét phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm.
Trong trường hợp gia hạn thời hạn điều tra, gia hạn thời hạn quyết định việc truy tố mà thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm của bị can đã hết thì thì theo Điều 23 của Thông tư Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền ra lệnh, quyết định mới. Thời hạn áp dụng các lệnh, quyết định mới của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đối với các bị can không quá thời hạn gia hạn điều tra, gia hạn thời hạn quyết định việc truy tố. Do đó, về cơ bản quyền lợi của các bị can có nguyện vọng thực hiện các biện pháp ngăn chặn theo cách này sẽ không bị ảnh hưởng hay có nguy cơ bị tạm giam, tạm giữ khi thời hạn cho biện pháp ngăn chặn hết.
Thông tư 01/2026 quy định về việc áp dụng biện pháp tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân thương mại liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại, buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án như tại Điều 24 như sau:
1. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân thương mại hoặc quyết định buộc pháp nhân thương mại phải nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án, Cơ quan điều tra phải có hồ sơ gồm các chứng cứ, tài liệu sau đề nghị Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn:
a) Văn bản đề nghị xét phê chuẩn nêu rõ lý do, căn cứ;
b) Quyết định tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân thương mại hoặc quyết định buộc pháp nhân thương mại phải nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án;
c) Chứng cứ, tài liệu chứng minh căn cứ áp dụng biện pháp tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân thương mại hoặc quyết định buộc pháp nhân thương mại phải nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án.
2. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền phải ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn hoặc có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung chứng cứ, tài liệu để xét phê chuẩn quyết định tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân thương mại hoặc quyết định buộc pháp nhân thương mại phải nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án.
Việc ban hành Thông tư liên tịch số 01/2026 là cần thiết, phù hợp với các quy định mới của Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025), góp phần tăng cường hiệu quả phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án hình sự.
Công ty luật TNHH Đức An
VĂN PHÒNG GIAO DỊCH: Số 64b, phố Nguyễn Viết Xuân, phường Phương Liệt, Hà Nội
Giám đốc Luật sư Phạm Thị Bích Hảo
Liên hệ luật sư 090 220 1233
Web: www.luatducan.vn
Youtube: Luật sư Phạm Thị Bích Hảo
Email: luatsubichhao@gmail.com