Điểm mới của Luật công chứng sửa đổi năm 2026
Ngày 23/4/2026, Quốc hội Việt Nam đã chính thức thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng với tỷ lệ tán thành rất cao. Luật sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2027 và được kỳ vọng tạo ra những thay đổi đáng kể trong hoạt động công chứng, theo hướng linh hoạt hơn, minh bạch hơn và phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số.
Một trong những điểm mới của Luật công chứng sửa đổi lần này là thay đổi phương pháp xác định các giao dịch bắt buộc phải công chứng. Nếu như trước đây pháp luật thường liệt kê cụ thể từng loại giao dịch, thì nay cách tiếp cận đó đã được thay thế bằng việc thiết lập các tiêu chí mang tính nguyên tắc. Điều này có ý nghĩa rất lớn về mặt lập pháp.
Luật Công chứng sửa đổi 2026 quy định:“Điều 3. Giao dịch phải công chứng1. Giao dịch phải công chứng là giao dịch được luật quy định phải công chứng, bao gồm giao dịch mua bán, chuyển nhượng, tặng cho, phân chia di sản, góp vốn, thế chấp có đối tượng là bất động sản giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tổ chức không hoạt động kinh doanh bất động sản, di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ và các giao dịch khác có tính chất quan trọng, đòi hỏi điều kiện tham gia giao dịch chặt chẽ và mức độ an toàn pháp lý cao.2. Bộ Tư pháp có trách nhiệm rà soát, cập nhật, đăng tải các giao dịch phải công chứng, chứng thực trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.3. Đối với các giao dịch được quy định tại khoản 1 Điều này mà luật chuyên ngành không quy định phải công chứng thì thực hiện theo luật chuyên ngành đó.”.
Đối với tổ chức hành nghề công chứng (sửa đổi, bổ sung Điều 19 của Luật Công chứng), Luật mới tiếp tục duy trì quy định giao UBND cấp tỉnh xây dựng và ban hành Đề án quản lý, phát triển mạng lưới tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn. Tuy nhiên, điểm đáng chú ý là yêu cầu đối với việc xây dựng Đề án đã được cụ thể hóa rõ ràng hơn, theo đó phải bảo đảm tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật, đồng thời bám sát điều kiện kinh tế - xã hội, nhu cầu thực tế và đặc thù của từng địa phương. Cách quy định này nhằm nâng cao tính khả thi, tránh tình trạng xây dựng Đề án mang tính hình thức, không phù hợp với thực tiễn triển khai.
“Điều 19. Tổ chức hành nghề công chứng
1.Tổ chức hành nghề công chứng bao gồm Phòng công chứng và Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Bộ Tư pháp có trách nhiệm xây dựng, trình Chính phủ ban hành chiến lược phát triển về lĩnh vực công chứng; hướng dẫn các địa phương xây dựng Đề án quản lý, phát triển các tổ chức hành nghề công chứng.
3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm ban hành Đề án quản lý, phát triển các tổ chức hành nghề công chứng; xem xét, quyết định chuyển giao thẩm quyền chứng thực giao dịch từ Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã sang tổ chức hành nghề công chứng tại những địa bàn cấp xã đã phát triển được tổ chức hành nghề công chứng đáp ứng yêu cầu công chứng của cá nhân, tổ chức theo quy định của Chính phủ.”
Về thẩm quyền công chứng giao dịch có đối tượng là bất động sản (sửa đổi, bổ sung Điều 44 của Luật Công chứng), Luật tiếp tục duy trì nguyên tắc xác định thẩm quyền công chứng theo phạm vi địa giới hành chính cấp tỉnh, thành phố nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở. Đây là quy định mang tính kế thừa nhưng vẫn có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hiện nay.
Quy định này phù hợp với đặc thù mô hình công chứng hiện hành, theo đó công chứng viên chịu trách nhiệm về tính xác thực, hợp pháp của giao dịch, bao gồm cả việc kiểm tra, xác minh tình trạng pháp lý và thực tế của bất động sản khi cần thiết. Trong điều kiện cơ sở dữ liệu công chứng và các cơ sở dữ liệu liên quan đang trong quá trình hoàn thiện, chưa được kết nối, chia sẻ đồng bộ trên toàn quốc, việc duy trì thẩm quyền công chứng giao dịch có đối tượng là bất động sản theo địa giới hành chính giúp hạn chế rủi ro phát sinh từ việc công chứng trùng lặp đối với cùng một tài sản, bảo đảm an toàn pháp lý cho giao dịch.
Luật mới đã có sự điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn, cho phép mở rộng phạm vi thẩm quyền công chứng không bị ràng buộc bởi địa giới hành chính đối với các giao dịch không gắn trực tiếp với bất động sản, chẳng hạn như hợp đồng ủy quyền, hợp đồng đặt cọc hoặc chuyển nhượng hợp đồng. Quy định này nhằm giảm bớt các giới hạn về địa hạt, tạo điều kiện để người dân và doanh nghiệp có thể lựa chọn tổ chức hành nghề công chứng thuận tiện hơn, từ đó tiết kiệm thời gian, chi phí và nâng cao hiệu quả thực hiện giao dịch dân sự, thương mại.
Đồng thời, Luật trao quyền cho Chính phủ xây dựng và ban hành lộ trình triển khai việc công chứng các giao dịch về bất động sản theo hướng không phụ thuộc vào địa giới hành chính trên phạm vi toàn quốc. Việc thực hiện cơ chế này được đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với yêu cầu hoàn thiện, vận hành đồng bộ hệ thống cơ sở dữ liệu công chứng và các cơ sở dữ liệu có liên quan. Cách tiếp cận này nhằm bảo đảm quá trình mở rộng thẩm quyền được tiến hành một cách thận trọng, có bước đi phù hợp, đồng thời giữ vững tính khả thi, chặt chẽ và an toàn pháp lý trong thực tiễn áp dụng.
Về tổ chức và hoạt động của văn phòng công chứng, Luật tiếp tục xác định mô hình chủ yếu là văn phòng công chứng được tổ chức theo loại hình công ty hợp danh, hoạt động theo đúng quy định của Luật Công chứng và các quy định pháp luật có liên quan. Đây được xem là mô hình bảo đảm tính đặc thù nghề nghiệp, đề cao trách nhiệm của công chứng viên trong việc thực hiện hoạt động công chứng.
Tuy nhiên, để phù hợp với điều kiện thực tiễn tại một số địa bàn, đặc biệt là các đơn vị hành chính cấp xã có mật độ dân cư thấp, cơ sở hạ tầng và dịch vụ còn hạn chế, việc thành lập văn phòng công chứng theo mô hình công ty hợp danh gặp nhiều khó khăn, Luật cho phép áp dụng linh hoạt mô hình doanh nghiệp tư nhân. Quy định này nhằm bảo đảm người dân tại các khu vực khó khăn vẫn có thể tiếp cận đầy đủ dịch vụ công chứng, không bị gián đoạn bởi yếu tố địa lý hay điều kiện phát triển kinh tế - xã hội.
Bên cạnh đó, Luật cũng đưa ra cơ chế chuyển tiếp nhằm bảo đảm tính ổn định trong hoạt động hành nghề. Theo đó, trong trường hợp đơn vị hành chính cấp xã không còn thuộc diện được thành lập văn phòng công chứng theo loại hình doanh nghiệp tư nhân, thì các văn phòng công chứng đã được thành lập theo loại hình này trước đó vẫn được tiếp tục hoạt động bình thường. Quy định này giúp tránh xáo trộn tổ chức, đồng thời bảo đảm tính liên tục và ổn định của hệ thống cung ứng dịch vụ công chứng trong thực tiễn.
Ngoài ra, Luật Công chứng sửa đổi 2026 còn điều chỉnh định nghĩa công chứng và công chứng viên. Khoản 1 Luật sửa đổi 2026 điều chỉnh định nghĩa công chứng và công chứng viên tại khoản 1, khoản 2 của Điều 2 Luật Công chứng 2024 như sau:
“1. Công chứng là dịch vụ công do công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng thực hiện để chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của giao dịch bằng văn bản (sau đây gọi là giao dịch) phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.
Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài thực hiện công chứng giao dịch theo quy định tại Điều 73 của Luật này.
2. Công chứng viên là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Luật này, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm để hành nghề công chứng và thực hiện một số nhiệm vụ chứng thực theo quy định của pháp luật”.
Luật Công chứng sửa đổi năm 2026 đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong tiến trình hoàn thiện thể chế pháp luật về công chứng ở Việt Nam, theo hướng hiện đại, linh hoạt và phù hợp hơn với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số.
Có thể thấy, Luật sửa đổi lần này không chỉ giải quyết những bất cập thực tiễn trước mắt mà còn đặt nền móng cho một hệ thống công chứng phát triển bền vững, an toàn pháp lý cao hơn, đồng thời tạo thuận lợi tối đa cho người dân và doanh nghiệp trong tiếp cận dịch vụ công chứng.
Công ty luật TNHH Đức An
VĂN PHÒNG GIAO DỊCH: Số 64b, phố Nguyễn Viết Xuân, phường Phương Liệt, Hà Nội
Giám đốc Luật sư Phạm Thị Bích Hảo
Liên hệ luật sư 090 220 1233
Web: www.luatducan.vn
Youtube: Luật sư Phạm Thị Bích Hảo
Email: luatsubichhao@gmail.com