1
Bạn cần hỗ trợ?
Trang chủ / Tin tức hoạt động / Thừa kế khi có thành viên mất tích và người đang thi hành án

Thừa kế khi có thành viên mất tích và người đang thi hành án

Nhà em hộ khẩu 5 người mà 3 người có đầy đủ giấy tờ để nộp văn phòng công chứng về việc khai nhận di sản người đã mất là ngoại em. Giờ thiếu 1 người mất tích muời mấy năm không có liên lạc và 1 người đang thi hành án. Cả hai đều là cháu của chủ hộ nhà cũng không có giấy tờ tùy thân của 2 người cháu. Thủ tục khai nhận thừa kế thực hiện như thế nào ạ?


Theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2015, người đang chấp hành án vẫn được coi là người thừa kế hợp pháp nếu đáp ứng điều kiện còn sống vào thời điểm mở thừa kế và không bị tước quyền thừa kế. Việc chấp hành án tù không làm mất quyền dân sự cơ bản, bao gồm quyền thừa kế di sản là quyền sử dụng đất. Đồng thời, Luật Thi hành án hình sự 2019 quy định người chấp hành án phạt tù có quyền thực hiện các giao dịch dân sự, nhưng phải thông qua ủy quyền hoặc đại diện theo pháp luật nếu không thể trực tiếp tham gia. Tuy nhiên họ cũng sẽ không có quyền hưởng di sản nếu bị kết án theo quy định điều 621 Bộ luật dân sự 2015 quy định về người không được quyền hưởng di sản như sau:

"Điều 621. Người không được quyền hưởng di sản

1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc."

Với trường hợp đồng thừa kế đang thi hành án, bạn có thể thông báo cho người đang chấp hành án tù, bạn có thể mời công chứng viên đến nơi đồng thừa kế đang thi hành án để làm giấy ủy quyền hoặc văn bản thỏa thuận phân chia di sản.

Với trường hợp đồng thừa kế mất tích nhiều năm không thể liên lạc được thì bạn cần làm thủ tục để tuyên bố người đó mất tích theo quy định tại Điều 68, Bộ luật Dân sự 2015, khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.

Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

Như vậy, theo quy định pháp luật, Tòa án tuyên bố một người mất tích khi người đó biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định pháp luật nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết.

Quyết định của Tòa án tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho UBND cấp xã/phường nơi cư trú cuối cùng của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích theo quy định của Bộ luật Dân sự.

Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng cứ để chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đã biệt tích 02 năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hoặc đã chết và chứng minh cho việc người yêu cầu đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm; trường hợp trước đó đã có quyết định của Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú thì phải có bản sao quyết định đó.

Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Nội dung thông báo và việc công bố thông báo được thực hiện theo quy định pháp luật.

Thời hạn thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là4 tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên. Trong thời hạn thông báo, nếu người bị yêu cầu tuyên bố mất tích trở về và yêu cầu Tòa án đình chỉ việc xét đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày kết thúc thời hạn thông báo, Tòa án phải mở phiên họp xét đơn yêu cầu.

Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định tuyên bố một người mất tích; trường hợp có yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích đó và được chấp nhận thì trong quyết định tuyên bố một người mất tích, Tòa án còn phải quyết định áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người đó theo quy định của Bộ luật dân sự.

Căn cứ theo Điều 613, Bộ luật Dân sự 2015, người thừa kế là cá nhân, người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản mất.

Tài sản của người mất tích sẽ do người đang quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú quy định tại Điều 65 của Bộ luật Dân sự 2015 tiếp tục quản lý tài sản của người đó khi người đó bị Tòa án tuyên bố mất tích và có các quyền, nghĩa vụ quy định pháp luật.

Trường hợp không có người quản lý tài sản thì Tòa án chỉ định một người trong số những người thân thích của người vắng mặt tại nơi cư trú quản lý tài sản; nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lý tài sản

Trường hợp người hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc pháp luật còn sống nhưng bị tuyên bố mất tích thì phần di sản thừa kế mà người mất tích được hưởng sẽ được giao cho người thân thích hoặc người quản lý tài sản do Toà án chỉ định. Trường hợp người mất tích trở về, phần di sản thừa kế được hưởng đó sẽ được giao lại khi người này trở về.

Liên hệ Luật sư Phí tư vấn theo giờ

Công ty luật TNHH Đức An

VĂN PHÒNG GIAO DỊCH: Số 64b, phố Nguyễn Viết Xuân, phường Phương Liệt, Hà Nội

Giám đốc Luật sư Phạm Thị Bích Hảo

Liên hệ luật sư 090 220 1233 

Web: www.luatducan.vn

Youtube: Luật sư Phạm Thị Bích Hảo

Email: luatsubichhao@gmail.com