Chi phí thi hành án dân sự thanh toán nợ vay
Nếu có giấy thắng kiện đòi nợ của toà án rồi. Mình nộp bên thi hành án để xem con nợ còn tài sản không thì phí khoảng bao nhiêu. Và nếu con nợ không còn tài sản thì sao
Câu hỏi: Chi phí thi hành án dân sự và trường hợp người phải thi hành án không còn tài sản ?
1. Đối tượng phải nộp phí thi hành án dân sự
Theo quy định tại khoản 7 Điều 3 Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi năm 2014, Điều 2 Thông tư 216/2016 sửa đổi Thông tư 74/2019 thì đối tượng phải nộp phí thi hành án dân sự là:
Người được thi hành án khi nhận được tiền, tài sản theo bản án, quyết định của Tòa án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh; phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại.
Trong đó: Người được thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định được thi hành.
2. Mức thu phí thi hành án dân sự
Người được thi hành án phải nộp phí thi hành án dân sự như sau:
|
Số tiền, giá trị tài sản thực nhận
|
Mức phí thi hành án dân sự
|
|
Số tiền, giá trị tài sản thực nhận từ trên hai lần mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang do Nhà nước quy định đến 5.000.000.000 đồng.
|
3% số tiền, giá trị tài sản thực nhận.
|
|
Số tiền, giá trị tài sản thực nhận từ trên 5.000.000.000 đồng đến 7.000.000.000 đồng.
|
150.000.000 đồng cộng với 2% của số tiền, giá trị tài sản thực nhận vượt quá 5.000.000.000 đồng
|
|
Số tiền, giá trị tài sản thực nhận từ trên 7.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng.
|
190.000.000 đồng cộng với 1% số tiền, giá trị tài sản thực nhận vượt quá 7.000.000.000 đồng.
|
|
Số tiền, giá trị tài sản thực nhận từ trên 10.000.000.000 đồng đến 15.000.000.000 đồng.
|
220.000.000 đồng cộng 0,5% số tiền, giá trị tài sản thực nhận vượt quá 10.000.000.000 đồng.
|
|
Số tiền, giá trị tài sản thực nhận trên 15.000.000.000 đồng.
|
245.000.000 đồng cộng với 0,01% của số tiền, giá trị tài sản thực nhận vượt quá 15.000.000.000 đồng.
|
(Khoản 1 Điều 4 Thông tư 216/2016/TT-BTC)
3. Mức phí thi hành án dân sự trong một số trường hợp đặc biệt
- Trường hợp 1: Đối với vụ việc chia tải sản chung, chia thừa kế; chia tài sản trong ly hôn; vụ việc mà các bên vừa có quyền, vừa có nghĩa vụ đối với tài sản thi hành án (chỉ cần một trong các bên có yêu cầu thi hành án), thì người được cơ quan thi hành án dân sự giao tiền, tài sản thi hành án phải nộp phí thi hành án dân sự tương ứng với giá trị tiền, tài sản thực nhận.
Ví dụ: Tòa án xử ly hôn giữa ông A và bà B, trong phần chia tài sản ly hôn, bà B được nhận nhà trị giá là 500.000.000 đồng và phải thanh toán cho ông A 200.000.000 đồng. Trong trường hợp này, số phí thi hành án dân sự mà các bên phải nộp được tính trên giá trị tài sản thực nhận của từng người, cụ thể như sau:
Số phí thi hành án dân sự ông A phải nộp là: 3% x 200.000.000 đồng = 6.000.000 đồng;
Số phí thi hành án dân sự bà B phải nộp là: 3% x (500.000.000 đồng - 200.000.000 đồng) = 9.000.000 đồng.
- Trường hợp 2: Đối với trường hợp nhiều người được nhận một tài sản cụ thể hoặc nhận chung một khoản tiền theo bản án, quyết định nhưng chỉ có một hoặc một số người có yêu cầu thi hành án mà Chấp hành viên đã tổ chức giao tài sản, khoản tiền đó cho người đã yêu cầu hoặc người đại diện của người đã có yêu cầu để quản lý thì người yêu cầu hoặc người đại diện đó phải nộp phí thi hành án dân sự tính trên toàn bộ giá trị tiền, tài sản thực nhận theo mức phí tại mục (2)
- Trường hợp 3: Đối với trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án nhưng chưa ra quyết định cưỡng chế thi hành án hoặc đã ra quyết định cưỡng chế thi hành án nhưng chưa thực hiện việc cưỡng chế thi hành án mà đương sự tự giao, nhận tiền, tài sản cho nhau thì người được thi hành án phải nộp 1/3 mức phí thi hành án dân sự tại mục (1) tính trên số tiền, tài sản thực nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 8 Điều 6 Thông tư 216/2016/TT-BTC.
- Trường hợp 4: Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đã thu được tiền hoặc đã thực hiện việc cưỡng chế thi hành án thì người được thi hành án phải nộp 100% mức phí thi hành án dân sự theo mục (2) tính trên số tiền, tài sản thực nhận.
(Khoản 2, 3, 4, 5 Điều 4 Thông tư 216/2016/TT-BTC)
4. Trong trường hợp con nợ không còn tài sản;
Thứ nhất, ít nhất 6 tháng 1 lần, Chấp hành viên sẽ xác minh điều kiện thi hành án.
Khoản 2 Điều 44 Luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi, bổ sung 2014 (LTHA) quy định về việc Xác minh điều kiện thi hành án:
“Trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án thì ít nhất 06 tháng một lần, Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án; trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án là người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án thì thời hạn xác minh ít nhất 01 năm một lần. Sau hai lần xác minh mà người phải thi hành án vẫn chưa có điều kiện thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo bằng văn bản cho người được thi hành án về kết quả xác minh. Việc xác minh lại được tiến hành khi có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.”
Điều này có nghĩa, trường hợp xác minh thấy người phải thi hành án hiện tại chưa có điều kiện thi hành án, Chấp hành viên sẽ tiếp tục xác minh ít nhất 6 tháng 1 lần.
Sau hai lần xác minh mà người phải thi hành án vẫn chưa có điều kiện thi hành án, việc xác minh lại được tiến hành khi chấp hành viên có thông tin mới về điều kiện thi hành án.
Thứ hai, thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự là 5 năm.
Khoản 1 Điều 30 LTHA quy định về Thời hiệu yêu cầu thi hành án:
“Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.
Trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định thì thời hạn 05 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn.
Đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.”
Điều này có nghĩa, thời gian tối thiểu để yêu cầu thi hành án là 5 năm. Nếu bản án có quy định thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì hết thời hạn đó, người được thi hành án có thêm 5 năm để yêu cầu thi hành án.
Thứ ba, cần lưu ý đến các biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án.
Chấp hành viên có quyền quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án; lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án; thu giữ tài sản thi hành án (Điều 20 LTHA). Theo đó những biện pháp bao gồm:
Biện pháp đảm bảo thi hành án: (Khoản 3 Điều 66)
- Phong tỏa tài khoản
- Tạm giữ tài sản, giấy tờ
- Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản
Biện pháp cưỡng chế thi hành án: (Điều 71 LTHA)
- Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án
- Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án
- Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ
- Khai thác tài sản của người phải thi hành án
- Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ
- Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.
Những biện pháp trên nhằm đảm bảo người phải thi hành án không có hành vi chống đối nghĩa vụ của mình, nội dung từng biện pháp được quy định tại Chương IV LTHA
Như vậy, người không có tài sản không đương nhiên hết nghĩa vụ đối với phần nghĩa vụ mình chịu trách nhiệm. Nếu có căn cứ xác định người này có điều kiện thi hành, Chấp hành viên sẽ xác minh lại để Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án.
Công ty luật TNHH Đức An
VĂN PHÒNG GIAO DỊCH: Số 64b, phố Nguyễn Viết Xuân, phường Phương Liệt, Hà Nội
Giám đốc Luật sư Phạm Thị Bích Hảo
Liên hệ luật sư 090 220 1233
Web: www.luatducan.vn
Youtube: Luật sư Phạm Thị Bích Hảo
Email: luatsubichhao@gmail.com