Miễn giảm thuế cho doanh nghiệp khởi sự
Ngày 15/01/2026, Chính phủ chính thức ban hành Nghị định số 20/2026/NĐ-CP, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết số 198/2025/QH15 về các cơ chế, chính sách đặc biệt nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Nghị định có hiệu lực ngày 15 tháng 01 năm 2026 trừ khoản 2 và khoản 3 điều 16
Nghị định 20/2026/NĐ-CP quy định về hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo – những chủ thể đóng vai trò then chốt trong tăng trưởng kinh tế nhưng lâu nay còn gặp nhiều rào cản về thể chế và nguồn lực. Thông qua việc cụ thể hóa các quy định của Nghị quyết 198, Nghị định đã làm rõ phạm vi, điều kiện và cách thức áp dụng các chính sách hỗ trợ, qua đó tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, minh bạch cho doanh nghiệp trong quá trình triển khai.
Nghị định 20/2026/NĐ-CP tập trung tháo gỡ các rào cản cốt lõi đang kìm hãm sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt trong các lĩnh vực thuế, đất đai, khoa học – công nghệ và tiếp cận các nguồn lực hỗ trợ. Đây được kỳ vọng sẽ trở thành đòn bẩy quan trọng, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn, thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn tới.
NHỮNG ĐIỂM NỔI BẬT VỀ THUẾ VÀ HỖ TRỢ NGUỒN LỰC CHO DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
Trên cơ sở Nghị quyết 198/2025/QH15, Nghị định 20/2026/NĐ-CP đã cụ thể hóa các nhóm chính sách ưu đãi, tập trung trực tiếp vào việc tháo gỡ các áp lực về chi phí đầu vào – một trong những rào cản lớn nhất đối với doanh nghiệp tư nhân hiện nay.
1. Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 03 năm đầu đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa đăng ký lần đầu
Theo khoản 3 Điều 7 Nghị định 20/2026/NĐ-CP, Nhà nước áp dụng chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) trong 03 năm đầu nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) ngay từ giai đoạn khởi sự.
Cụ thể, đối tượng được hưởng ưu đãi là doanh nghiệp nhỏ và vừa được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu theo quy định của pháp luật. Đối với các doanh nghiệp này, 100% số thuế TNDN phải nộp sẽ được miễn trong thời hạn 03 năm liên tục, qua đó giúp giảm đáng kể áp lực tài chính trong giai đoạn đầu hoạt động.
Thời gian miễn thuế được xác định là 03 năm liên tiếp kể từ năm doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu. Trường hợp doanh nghiệp đã được cấp giấy đăng ký trước thời điểm Nghị quyết 198/2025/QH15 có hiệu lực thì chỉ được hưởng ưu đãi đối với thời gian miễn thuế còn lại, không áp dụng hồi tố và không tính lại thời gian miễn thuế từ đầu.
Tuy nhiên, để bảo đảm chính sách được áp dụng đúng mục tiêu hỗ trợ khởi nghiệp thực chất, Nghị định cũng loại trừ một số trường hợp không được hưởng ưu đãi, bao gồm:
-
Doanh nghiệp được thành lập mới trên cơ sở sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp hoặc thay đổi chủ sở hữu;
-
Doanh nghiệp mới thành lập nhưng người đại diện theo pháp luật, thành viên hợp danh hoặc người góp vốn lớn nhất đã từng tham gia điều hành hoặc góp vốn chi phối tại doanh nghiệp khác đang hoạt động, hoặc đã giải thể chưa đủ 12 tháng;
-
Các khoản thu nhập không thuộc diện ưu đãi theo quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15.
Quy định này cho thấy định hướng rõ ràng của Nhà nước trong việc khuyến khích doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp thực chất, đồng thời hạn chế tình trạng lợi dụng chính sách ưu đãi thuế thông qua việc “tái cấu trúc hình thức” doanh nghiệp.
2. Ưu đãi thuế dành cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo
Nhằm tạo động lực thực chất cho hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, Nghị định 20/2026/NĐ-CP đã cụ thể hóa các ưu đãi thuế theo Nghị quyết 198/2025/QH15 theo hướng đồng bộ và có chiều sâu, không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp ở giai đoạn đầu mà còn chú trọng nuôi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao – yếu tố then chốt quyết định sự thành công của mô hình khởi nghiệp sáng tạo.
2.1. Ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp
Theo quy định, đối tượng được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) bao gồm doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, công ty quản lý quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo và các tổ chức trung gian hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, với điều kiện có thu nhập phát sinh từ hoạt động khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo theo đúng quy định của pháp luật.
Về mức độ ưu đãi, các chủ thể này được áp dụng chính sách theo khoản 1 Điều 10 Nghị quyết 198/2025/QH15, theo đó được miễn thuế TNDN trong 02 năm đầu và giảm 50% số thuế phải nộp trong 04 năm tiếp theo. Đây là khoảng thời gian đủ dài để doanh nghiệp tích lũy nguồn lực, tái đầu tư cho công nghệ, hoàn thiện sản phẩm và mở rộng thị trường – những yếu tố sống còn đối với startup.
Thời gian miễn, giảm thuế được xác định liên tục kể từ năm đầu tiên phát sinh thu nhập chịu thuế từ hoạt động khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo. Đáng chú ý, trong trường hợp 03 năm đầu kể từ khi có doanh thu nhưng doanh nghiệp chưa phát sinh thu nhập chịu thuế, thì thời gian ưu đãi được lùi sang tính từ năm thứ tư. Cách tiếp cận này thể hiện sự linh hoạt của chính sách, bảo đảm ưu đãi thực sự gắn với hiệu quả kinh doanh, thay vì bị “tiêu hao” trong giai đoạn doanh nghiệp còn đang lỗ.
2.2. Ưu đãi về thuế thu nhập cá nhân
Cùng với việc hỗ trợ doanh nghiệp, Nghị định 20/2026/NĐ-CP còn dành sự quan tâm đặc biệt đến đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học – lực lượng nòng cốt tạo ra giá trị đổi mới sáng tạo.
Theo đó, chuyên gia và nhà khoa học có thu nhập từ tiền lương, tiền công khi làm việc tại doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) hoặc các tổ chức trung gian hỗ trợ khởi nghiệp sẽ được hưởng ưu đãi thuế thu nhập cá nhân (TNCN) ở mức cao.
Các đối tượng này được miễn 100% thuế TNCN trong 02 năm đầu, đồng thời được giảm 50% số thuế phải nộp trong 04 năm tiếp theo. Thời gian miễn, giảm thuế được tính liên tục kể từ tháng phát sinh thu nhập thuộc diện ưu đãi; trường hợp phát sinh thu nhập trong tháng thì được tính tròn tháng để bảo đảm quyền lợi cho người nộp thuế.
Trong trường hợp cá nhân có thêm thu nhập từ tiền lương, tiền công ngoài phạm vi doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, thì phần thuế TNCN được miễn hoặc giảm sẽ được xác định theo tỷ lệ giữa thu nhập thuộc diện ưu đãi và tổng thu nhập trong kỳ. Quy định này vừa bảo đảm tính công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế, vừa ngăn ngừa việc mở rộng ưu đãi ngoài mục tiêu chính sách đã được xác định.
3. Ưu đãi thuế đối với hoạt động chuyển nhượng vốn
Bên cạnh các ưu đãi trực tiếp dành cho doanh nghiệp và nguồn nhân lực khởi nghiệp, Nghị định 20/2026/NĐ-CP còn thiết kế cơ chế ưu đãi thuế riêng đối với hoạt động chuyển nhượng vốn, qua đó khuyến khích dòng vốn đầu tư vào doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và thúc đẩy sự vận hành thông suốt của thị trường vốn trong hệ sinh thái khởi nghiệp.
Theo khoản 2 Điều 7 Nghị định 20/2026/NĐ-CP, đối tượng được áp dụng ưu đãi là các doanh nghiệp và cá nhân có thu nhập phát sinh từ việc chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp, quyền góp vốn, quyền mua cổ phần hoặc quyền mua phần vốn góp tại doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
Về mức ưu đãi, thu nhập phát sinh từ các giao dịch chuyển nhượng nêu trên được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với tổ chức và miễn thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân. Đây là điểm mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi hoạt động thoái vốn (exit) chính là một trong những yếu tố then chốt quyết định mức độ hấp dẫn của môi trường đầu tư khởi nghiệp.
Tuy nhiên, để bảo đảm chính sách được áp dụng đúng mục tiêu khuyến khích đổi mới sáng tạo, Nghị định cũng đặt ra giới hạn phạm vi ưu đãi. Cụ thể, ưu đãi miễn thuế không áp dụng đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn góp, cổ phần tại các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản. Quy định loại trừ này nhằm tránh việc lợi dụng chính sách khởi nghiệp sáng tạo để hưởng ưu đãi thuế trong các lĩnh vực mang tính đầu cơ cao, đồng thời giữ đúng trọng tâm hỗ trợ cho các ngành nghề tạo giá trị gia tăng dựa trên công nghệ và đổi mới.
4. Chính sách hỗ trợ tiếp cận đất đai và mặt bằng sản xuất kinh doanh
Theo Điều 4, Điều 5 và Điều 6 Nghị định 20/2026/NĐ-CP, Nhà nước thiết kế một cơ chế hỗ trợ có tính hệ thống về hạ tầng và đất đai, nhằm trực tiếp giảm chi phí đầu vào – vốn là rào cản lớn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong giai đoạn hình thành và mở rộng hoạt động.
Thứ nhất, về hỗ trợ đầu tư hạ tầng, Nhà nước thực hiện hỗ trợ vốn để xây dựng kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp và vườn ươm công nghệ theo quy định của pháp luật về đầu tư công và ngân sách nhà nước. Khoản vốn hỗ trợ này không được tính vào tổng vốn đầu tư của dự án, qua đó bảo đảm tính minh bạch trong cơ cấu tài chính và tránh việc “đội vốn” làm tăng chi phí thuê lại hạ tầng cho doanh nghiệp. Đồng thời, chủ đầu tư hạ tầng có trách nhiệm duy tu, bảo dưỡng công trình sau nghiệm thu và bàn giao, bảo đảm công trình được khai thác ổn định, lâu dài và đúng mục tiêu hỗ trợ phát triển sản xuất – kinh doanh.
Thứ hai, về cơ chế hoàn trả tiền thuê lại đất, Nghị định cho phép chủ đầu tư hạ tầng được hoàn trả khoản tiền đã giảm khi cho doanh nghiệp ưu tiên thuê đất, trong đó trọng tâm là doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Cơ chế này vừa khuyến khích chủ đầu tư chủ động giảm giá thuê đất, vừa bảo đảm không làm suy giảm lợi ích kinh tế hợp pháp của chủ đầu tư, với điều kiện doanh nghiệp thuê đất đã ký hợp đồng, thực hiện thanh toán đầy đủ và hoàn tất các thủ tục theo quy định.
Thứ ba, về hình thức và điều kiện hoàn trả, khoản hỗ trợ được thực hiện thông qua bù trừ vào nghĩa vụ tài chính phải nộp hoặc chi trực tiếp từ ngân sách trung ương và/hoặc ngân sách địa phương, căn cứ vào tỷ lệ phân chia nguồn thu từ tiền thuê đất. Tuy nhiên, để tránh việc lợi dụng chính sách, Nghị định đồng thời đặt ra cơ chế kiểm soát hậu kiểm chặt chẽ: doanh nghiệp sẽ phải hoàn trả khoản hỗ trợ nếu vi phạm điều kiện trong thời hạn 05 năm đầu, như chấm dứt hoạt động, thay đổi ngành nghề không còn thuộc diện ưu tiên hoặc không tuân thủ các cam kết đã đăng ký.
Thứ tư, về tiếp cận nhà, đất là tài sản công, Nghị định nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm đúng đối tượng, công bằng, công khai và minh bạch trong toàn bộ quá trình hỗ trợ thuê. Trường hợp có nhiều doanh nghiệp cùng đăng ký thuê, việc lựa chọn bên thuê phải tuân theo các nguyên tắc đã được pháp luật quy định, nhằm loại bỏ cơ chế xin – cho và bảo đảm cạnh tranh lành mạnh. Toàn bộ nguồn thu từ hoạt động cho thuê, việc quản lý, sử dụng nguồn tiền cũng như xử lý các hành vi vi phạm được thực hiện thống nhất theo quy định hiện hành; đồng thời các cơ quan, tổ chức liên quan phải chịu trách nhiệm đầy đủ trong quá trình tổ chức thực hiện.
Tổng thể, các quy định tại Điều 4, 5 và 6 Nghị định 20/2026/NĐ-CP cho thấy cách tiếp cận chính sách chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang hỗ trợ có điều kiện, có kiểm soát, vừa tạo dư địa giảm chi phí cho doanh nghiệp, vừa bảo đảm kỷ luật tài chính và hiệu quả sử dụng nguồn lực công
5. Đẩy mạnh chuyển đổi số thông qua Quỹ Khoa học công nghệ
Với mục tiêu thúc đẩy chuyển đổi số một cách thực chất trong khu vực kinh tế tư nhân, Điều 9 Nghị định 20/2026/NĐ-CP đã mở rộng đáng kể phạm vi và cách thức sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN) của doanh nghiệp. Thay vì chỉ giới hạn cho các hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm mang tính thuần túy, quy định mới cho phép doanh nghiệp chủ động phân bổ nguồn lực nội bộ để hiện đại hóa hệ thống quản trị, ứng dụng công nghệ và nâng cao năng lực vận hành.
Theo đó, doanh nghiệp được trích lập tối đa 20% thu nhập tính thuế hằng năm để hình thành Quỹ phát triển KH&CN. Điểm đáng chú ý là khoản trích lập này được trừ trực tiếp vào thu nhập chịu thuế khi xác định nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp trong kỳ. Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp vừa chủ động tích lũy nguồn vốn cho đổi mới công nghệ, vừa giảm ngay áp lực thuế, tạo ra lợi ích tài chính song hành với mục tiêu dài hạn.
Xét về bản chất, cơ chế này đã biến Quỹ KH&CN từ một công cụ mang tính kỹ thuật thành đòn bẩy tài chính cho quá trình chuyển đổi số, đặc biệt phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa – nhóm thường gặp hạn chế về nguồn vốn đầu tư ban đầu cho công nghệ. Việc cho phép sử dụng lợi nhuận trước thuế để đầu tư cho hiện đại hóa quản trị không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động, mà còn góp phần tăng sức cạnh tranh trong bối cảnh kinh tế số ngày càng phát triển.
HỘ KINH DOANH VÀ DOANH NGHIỆP CẦN LÀM GÌ ĐỂ HƯỞNG ƯU ĐÃI?
Nhằm không bỏ lỡ các chính sách hỗ trợ từ Chính phủ, chủ shop và doanh nghiệp cần chủ động chuẩn bị và hành động sớm thông qua các nội dung sau:
Trước hết, cần rà soát lại mô hình kinh doanh hiện tại. Đối với các hộ kinh doanh đã đạt quy mô tương đối, có doanh thu ổn định hoặc đang hoạt động trong các lĩnh vực công nghệ, đổi mới sáng tạo và ngành nghề được ưu tiên, việc cân nhắc chuyển đổi lên mô hình doanh nghiệp trong năm 2026 sẽ mở ra cơ hội tiếp cận rộng hơn các chính sách ưu đãi về thuế, đất đai và hỗ trợ đầu tư mà hộ kinh doanh không được áp dụng.
Song song với đó, chuẩn hóa hệ thống sổ sách, hóa đơn và quản trị tài chính là điều kiện tiên quyết. Trên thực tế, hầu hết các ưu đãi thuế đều gắn với yêu cầu “thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định”. Đây là thời điểm phù hợp để doanh nghiệp từ bỏ phương thức quản lý thủ công, chuyển sang sử dụng phần mềm quản lý bán hàng có tích hợp hóa đơn điện tử, qua đó bảo đảm dữ liệu minh bạch, nhất quán và sẵn sàng khi cơ quan quản lý xem xét điều kiện hưởng ưu đãi.
Đối với doanh nghiệp đã có lợi nhuận, cần chủ động xây dựng quy chế trích lập và sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ, trên cơ sở trao đổi kỹ với bộ phận kế toán hoặc đơn vị tư vấn. Việc trích lập Quỹ (tối đa 20% thu nhập tính thuế) không chỉ giúp giảm nghĩa vụ thuế trong ngắn hạn, mà còn tạo nguồn lực tài chính hợp pháp cho đầu tư công nghệ, chuyển đổi số và nâng cao năng lực quản trị trong dài hạn.
Ngoài ra, doanh nghiệp cần theo dõi sát sao các hướng dẫn triển khai ở cấp địa phương, đặc biệt là các thông báo liên quan đến giảm tiền thuê đất, hoàn trả tiền thuê đất hoặc danh mục nhà, đất công cho thuê. Việc nắm bắt kịp thời thông tin và chuẩn bị hồ sơ đúng hạn sẽ quyết định khả năng tiếp cận ưu đãi trên thực tế, thay vì chỉ dừng lại ở quy định trên giấy.
Có thể thấy, Nghị định 20/2026/NĐ-CP mở ra nhiều dư địa mới cho khu vực kinh tế tư nhân, nhất là đối với hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ đang trong quá trình chuẩn hóa và mở rộng hoạt động. Tuy nhiên, để các chính sách hỗ trợ thực sự phát huy hiệu quả, người kinh doanh không chỉ cần “biết quy định”, mà quan trọng hơn là chủ động chuẩn bị nền tảng pháp lý và năng lực quản trị ngay từ bên trong doanh nghiệp.
Khi hệ thống quản trị đã vững chắc, doanh nghiệp sẽ tận dụng được ưu đãi một cách chủ động và an toàn, thay vì bị động xử lý thủ tục hoặc lo ngại rủi ro về thuế và kế toán. Đây cũng chính là bước chuẩn bị cần thiết để doanh nghiệp phát triển bền vững trong bối cảnh chính sách đang thay đổi mạnh mẽ và theo hướng ngày càng minh bạch, chuẩn mực hơn.
Công ty luật TNHH Đức An
VĂN PHÒNG GIAO DỊCH: Số 64b, phố Nguyễn Viết Xuân, phường Phương Liệt, Hà Nội
Giám đốc Luật sư Phạm Thị Bích Hảo
Liên hệ luật sư 090 220 1233
Web: www.luatducan.vn
Youtube: Luật sư Phạm Thị Bích Hảo
Email: luatsubichhao@gmail.com