1
Bạn cần hỗ trợ?
Trang chủ / Sự kiện bình luận / Luật Giám định tư pháp năm 2025 điểm mới

Luật Giám định tư pháp năm 2025 điểm mới

Luật Giám định tư pháp năm 2025 được ban hành trong bối cảnh yêu cầu cải cách tư pháp ngày càng sâu rộng, đòi hỏi hoạt động giám định phải bảo đảm khách quan, minh bạch, đúng thời hạn và không bị lạm dụng. So với Luật Giám định tư pháp năm 2012 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020), Luật năm 2025 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng, thể hiện tư duy lập pháp tiến bộ, khắc phục những bất cập phát sinh trong thực tiễn. Dưới đây là những điểm mới


1. Mở rộng các hành vi bị nghiêm cấm trong giám định tư pháp

So với Điều 6 Luật Giám định tư pháp năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 3 Điều 1 Luật năm 2020), Luật Giám định tư pháp năm 2025 đã bổ sung thêm nhiều hành vi bị nghiêm cấm, qua đó siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động giám định.

Cụ thể, Luật 2025 bổ sung các hành vi bị nghiêm cấm gồm:

  • Từ chối tiếp nhận, thực hiện giám định tư pháp mà không có lý do chính đáng;
  • Từ chối kết luận giám định tư pháp mà không do trở ngại khách quan;
  • Nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích khác từ cơ quan, tổ chức, cá nhân để làm sai lệch việc trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp hoặc để làm sai lệch kết quả, kết luận giám định tư pháp;
  • Lợi dụng việc trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp để gây khó khăn, cản trở hoạt động tố tụng;
  • Lạm dụng việc trưng cầu giám định tư pháp trong hoạt động tố tụng hình sự để thay thế công tác điều tra, thực hiện nghĩa vụ chứng minh của cơ quan tiến hành tố tụng;
  • Đe dọa người giám định tư pháp đưa ra kết luận giám định tư pháp sai sự thật.

Bên cạnh đó, Luật 2025 cũng sửa đổi, làm rõ một số hành vi bị nghiêm cấm đã được quy định trước đây, bao gồm:

  • “Cố ý kéo dài thời gian thực hiện giám định tư pháp, thời gian ban hành kết luận giám định tư pháp” (quy định cũ chỉ dừng lại ở hành vi cố ý kéo dài thời gian thực hiện giám định);
  • “Tiết lộ thông tin trong quá trình thực hiện giám định tư pháp gây ảnh hưởng đến hoạt động tố tụng” (quy định cũ là tiết lộ bí mật thông tin mà mình biết được khi tiến hành giám định);
  • “Lợi dụng danh nghĩa người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp để trục lợi” (thay cho quy định cũ là lợi dụng việc thực hiện giám định tư pháp để trục lợi).

Những sửa đổi, bổ sung này cho thấy nhà làm luật đã tiếp cận theo hướng bao quát đầy đủ hơn các hành vi tiêu cực có thể phát sinh trong thực tiễn giám định tư pháp.

2. Bổ sung quy định về người không được công nhận là giám định viên tư pháp theo vụ việc

Một điểm mới đáng chú ý khác của Luật Giám định tư pháp năm 2025 là việc bổ sung quy định về người không được công nhận là giám định viên tư pháp theo vụ việc. Theo khoản 5 Điều 11 Luật Giám định tư pháp 2025, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp được quy định chặt chẽ hơn.

Theo đó, người không đủ tiêu chuẩn để được công nhận là giám định viên tư pháp theo vụ việc bao gồm: người không bảo đảm phẩm chất đạo đức tốt; không có trình độ đại học trở lên hoặc chưa có đủ 05 năm hoạt động thực tế trong lĩnh vực chuyên môn được đào tạo. Đồng thời, Luật loại trừ các trường hợp như: người bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; cán bộ bị bãi nhiệm; công chức, viên chức bị buộc thôi việc; người đang trong thời gian chấp hành quyết định kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên.

Bên cạnh đó, Luật 2025 cũng quy định các trường hợp bị hủy bỏ công nhận giám định viên tư pháp theo vụ việc, bao gồm: không đủ điều kiện được công nhận; bị cảnh cáo trở lên hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính do vi phạm hành vi bị nghiêm cấm; có quyết định nghỉ hưu, thôi việc có hiệu lực; hoặc chuyển đổi vị trí công tác, chuyển công tác sang cơ quan, đơn vị khác mà không còn làm việc trong lĩnh vực chuyên môn đã được công nhận.

3. Quy định cụ thể 7 lĩnh vực hoạt động của Văn phòng giám định tư pháp

Theo Luật Giám định tư pháp năm 2025, Văn phòng giám định tư pháp được tổ chức và hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh, tuân thủ quy định của Luật Giám định tư pháp, pháp luật về doanh nghiệp và các quy định pháp luật có liên quan (khoản 1 Điều 20).

Căn cứ khoản 6 Điều 20, Văn phòng giám định tư pháp được thành lập và đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

  • Trưởng Văn phòng giám định tư pháp là giám định viên tư pháp, có thời gian công tác giám định từ đủ 03 năm trở lên;
  • Có Đề án thành lập Văn phòng giám định tư pháp.

Văn phòng giám định tư pháp được phép hoạt động kể từ ngày Sở Tư pháp phê duyệt Đề án thành lập và cấp Giấy đăng ký hoạt động.

Đáng chú ý, khoản 2 Điều 20 Luật Giám định tư pháp năm 2025 đã bổ sung và quy định cụ thể 07 lĩnh vực, chuyên ngành mà Văn phòng giám định tư pháp được thành lập và đăng ký hoạt động, bao gồm:

  • Lĩnh vực kỹ thuật hình sự, gồm các chuyên ngành: giám định tài liệu, giám định kỹ thuật số và điện tử, giám định dấu vết đường vân;
  • Lĩnh vực pháp y, gồm chuyên ngành giám định ADN;
  • Lĩnh vực văn hóa, gồm các chuyên ngành: cổ vật, di vật, bản quyền tác giả;
  • Lĩnh vực tài chính;
  • Lĩnh vực ngân hàng;
  • Lĩnh vực xây dựng;
  • Lĩnh vực tài nguyên.

Tuy nhiên, Luật cũng quy định rõ rằng Văn phòng giám định tư pháp không được thực hiện giám định các chuyên ngành ADN, tài liệu, kỹ thuật số và điện tử, dấu vết đường vân trong tố tụng hình sự, trừ trường hợp được người trưng cầu giám định trưng cầu trong những trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, tên của Văn phòng giám định tư pháp phải bảo đảm thống nhất, trong đó bắt buộc bao gồm cụm từ “Văn phòng giám định tư pháp” kèm theo tên riêng bằng tiếng Việt, nhằm bảo đảm tính minh bạch và dễ nhận diện trong hoạt động hành nghề.

Đặc biệt, Điều 22 và 23 Luật Giám định tư pháp năm 2025 đã khẳng định quyền của người dân trong việc yêu cầu giám định tư pháp. Theo đó, cá nhân, tổ chức có quyền trực tiếp yêu cầu Văn phòng giám định tư pháp thực hiện giám định đối với các vấn đề thuộc lĩnh vực, chuyên ngành mà Văn phòng đã được đăng ký hoạt động. Kết luận giám định được lập hợp pháp có giá trị pháp lý và có thể được sử dụng làm chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc tại Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

4. Giảm thời hạn giám định tư pháp từ ngày 01/5/2026

Điều 30 Luật Giám định tư pháp 2025 đã điều chỉnh thời hạn giám định tư pháp theo hướng rút ngắn và phân loại rõ ràng hơn so với quy định tại Luật sửa đổi năm 2020.

Cụ thể:

  • Đối với trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định tư pháp: thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự;
  • Đối với các trường hợp còn lại: thời hạn giám định tư pháp tối đa là 02 tháng (giảm từ 03 tháng); trường hợp có tính chất phức tạp hoặc khối lượng công việc lớn thì tối đa 03 tháng (giảm từ 04 tháng); trường hợp vụ việc có tính chất đặc biệt phức tạp hoặc khối lượng công việc đặc biệt lớn thì thời hạn tối đa là 04 tháng (quy định mới được bổ sung).

Thời điểm tính thời hạn giám định tư pháp được xác định là ngày người giám định tư pháp hoặc tổ chức giám định tư pháp nhận được đầy đủ hồ sơ trưng cầu, yêu cầu giám định.

Luật cũng bổ sung quy định về việc bổ sung thông tin, tài liệu, mẫu vật và gia hạn thời hạn giám định, theo đó người giám định phải có văn bản đề nghị bổ sung trong 24 giờ kể từ khi phát hiện nội dung cần bổ sung; người trưng cầu phải bổ sung trong thời hạn 05 ngày; và trường hợp không thể hoàn thành đúng hạn thì phải đề nghị gia hạn chậm nhất 24 giờ trước thời hạn trả kết luận.

5. Bổ sung quy định về văn bản, dữ liệu điện tử ghi nhận quá trình giám định

Điều 34 Luật Giám định tư pháp 2025 đã bổ sung quy định về văn bản, dữ liệu điện tử ghi nhận quá trình thực hiện giám định tư pháp. Theo đó, văn bản, dữ liệu điện tử phải thể hiện đầy đủ tình trạng đối tượng giám định, thông tin, tài liệu, mẫu vật liên quan, thời gian, địa điểm, nội dung công việc, tiến độ, phương pháp thực hiện, kết quả giám định, có chữ ký của người thực hiện và được lưu trữ trong hồ sơ giám định.

6. Bổ sung trường hợp đình chỉ việc thực hiện giám định tư pháp

Theo Điều 36 Luật Giám định tư pháp 2025, trong trường hợp không cần đến kết luận giám định tư pháp để giải quyết vụ việc, vụ án, người trưng cầu hoặc yêu cầu giám định phải thông báo ngay bằng văn bản và nêu rõ lý do đình chỉ. Ngay sau khi nhận được thông báo, người giám định tư pháp phải chấm dứt việc thực hiện giám định và ghi nhận vào văn bản hoặc dữ liệu điện tử.

7. Bổ sung các trường hợp từ chối thực hiện giám định tư pháp

Điểm e khoản 1 Điều 38 Luật Giám định tư pháp 2025 đã bổ sung “trường hợp khác theo quy định của pháp luật” là căn cứ từ chối thực hiện giám định. Đồng thời, Điều 38 đã thống nhất các trường hợp không được thực hiện giám định tư pháp áp dụng chung cho cả tổ chức và cá nhân, bao gồm: pháp luật tố tụng quy định không được giám định; đã thực hiện giám định cùng nội dung trong cùng vụ việc; có quyền, nghĩa vụ liên quan; có căn cứ cho rằng không bảo đảm tính khách quan, vô tư; và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

8. Bổ sung chính sách hỗ trợ đặc thù cho người giám định tư pháp

Cuối cùng, Điều 41 Luật Giám định tư pháp 2025 đã bổ sung chế độ, chính sách hỗ trợ đặc thù, vượt trội cho người giám định tư pháp trong các lĩnh vực, chuyên ngành có tính chất nguy hiểm, độc hại, khó thu hút nhân lực. Đồng thời, tổ chức giám định tư pháp công lập được áp dụng cơ chế thuê khoán tương xứng nhằm thu hút chuyên gia giỏi, tổ chức chuyên môn có năng lực tham gia hoạt động giám định.

Công ty luật TNHH Đức An

VĂN PHÒNG GIAO DỊCH: Số 64b, phố Nguyễn Viết Xuân, phường Phương Liệt, Hà Nội

Giám đốc Luật sư Phạm Thị Bích Hảo

Liên hệ Luật sư 090 220 1233 

Web: www.luatducan.vn

Youtube: Luật sư Phạm Thị Bích Hảo

Email: luatsubichhao@gmail.com