1
Bạn cần hỗ trợ?
Trang chủ / Tư Vấn Luật Hôn Nhân Và Gia Đình / Tranh chấp quyền nuôi con sau khi ly hôn

Tranh chấp quyền nuôi con sau khi ly hôn

Quyền nuôi con là một trong những quyền cơ bản của bố mẹ trong hôn nhân, sau khi ly hôn. Quyền nuôi con được quy định trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em, Hiến pháp 2013, Luật Hôn nhân gia đình 2014, Luật trẻ em 2016. Quyền nuôi con bao gồm quyền được bố mẹ chăm sóc trong thời kỳ hôn nhân và quyền được chăm sóc sau khi bố mẹ ly hôn. Luật sư Phạm Thị Bích Hảo, Công ty luật TNHH Đức An, Đoàn luật sư TP Hà Nội


Tranh chấp quyền nuôi con sau khi ly hôn  

Luật sư Phạm Thị Bích Hảo, Công ty luật TNHH Đức An, Đoàn luật sư TP Hà Nội

 

Quyền nuôi con là một trong những quyền cơ bản của bố mẹ trong hôn nhân, sau khi ly hôn. Quyền nuôi con được quy định trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em, Hiến pháp 2013, Luật Hôn nhân gia đình 2014, Luật trẻ em 2016. Quyền nuôi con bao gồm quyền được bố mẹ chăm sóc trong thời kỳ hôn nhân và quyền được chăm sóc sau khi bố mẹ ly hôn.

1. Quyền được bố mẹ chăm sóc

Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em được Việt Nam phê chuẩn ngày 20/2/1990 thừa nhận gia đình, với ý nghĩa là tế bào xã hội cơ bản và môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của mọi thành viên, nhất là trẻ em, cần được sự bảo vệ và giúp đỡ cần thiết để đảm đương được đầy đủ trách nhiệm của mình trong cộng đồng. Về quyền được sống cùng cha mẹ được quy định cụ thể tại Điều 9.

1. Các Quốc gia thành viên phải bảo đảm rằng trẻ em không bị tách khỏi cha, mẹ trái với ý muốn của họ, trừ trường hợp do các cơ quan có thẩm quyền quyết định với sự thẩm định của tòa án rằng theo pháp luật và các thủ tục áp dụng thì việc tách khỏi cha, mẹ như vậy là cần thiết cho lợi ích tốt nhất của trẻ em. Quyết định này có thể là cần thiết trong những trường hợp đặc biệt như trẻ em bị cha mẹ lạm dụng hay bỏ mặc, hoặc khi cha mẹ sống ly thân và cần có một quyết định về nơi cư trú của trẻ em.

3. Các Quốc gia thành viên phải tôn trọng quyền của đứa trẻ phải sống cách ly khỏi cha, mẹ, hoặc cả cha lẫn mẹ, được duy trì những quan hệ riêng tư và được tiếp xúc trực tiếp với cả cha và mẹ một cách đều đặn, trừ khi việc này trái với lợi ích tốt nhất của đứa trẻ.

Hiến pháp năm 2013 quy định tại Điều 37 khoản 1. “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em.”

Luật Hôn nhân gia đình 2014 tại Điều 70. Quyền và nghĩa vụ của con

1. Được cha mẹ thương yêu, tôn trọng, thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp về nhân thân và tài sản theo quy định của pháp luật; được học tập và giáo dục; được phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức.

Luật trẻ em 2016 quy định “Điều 22. Quyền được sống chung với cha, mẹ

Trẻ em có quyền được sống chung với cha, mẹ; được cả cha và mẹ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, trừ trường hợp cách ly cha, mẹ theo quy định của pháp luật hoặc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.

Khi phải cách ly cha, mẹ, trẻ em được trợ giúp để duy trì mối liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ, gia đình, trừ trường hợp không vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.”

 

Về quyền được bố mẹ chăm sóc có thể hiểu là quyền được quyền được sống chung với cha, mẹ; được cả cha và mẹ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, trừ trường hợp cách ly cha, mẹ theo quy định của pháp luật hoặc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.

2. Quyền nuôi con sau khi ly hôn

Theo quy định Luật hôn nhân gia đình 2014 tại “Điều 71. Nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng 1.Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.”

Theo đó, cha mẹ có quyền và nghĩa vụ ngang nhau, cùng nhau chăm sóc nuôi dưỡng con đến khi con 18 tuổi, hoặc trường hợp con đã thành niên hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, con chưa thành niên mất năng lực hành vi dân sự.

Đối với cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được quy định theo  Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Như vậy, cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn vẫn có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con, cấp dưỡng và được thăm nom con.

3. Quy định của pháp luật về việc giao con cho người có quyền nuôi con

Theo quy định tại các Điều 45, 48, 118, 120 Luật Thi hành án dân sự hiện hành, thi hành bản án, quyết định về giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng là loại việc thi hành án liên quan đến việc thực hiện một công việc nhất định. Theo đó, người phải thi hành án có một khoảng thời gian để tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình (10 ngày, kể từ ngày họ nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án). Hết thời hạn này, nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thực hiện sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế. Trước khi cưỡng chế giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng, chấp hành viên phối hợp với chính quyền địa phương, tổ chức chính trị – xã hội tại địa phương đó thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án. Trường hợp người phải thi hành án hoặc người đang trông giữ người chưa thành niên không giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng, thì chấp hành viên ra quyết định phạt tiền, ấn định thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người đó giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng. Hết thời hạn đã ấn định mà người đó không thực hiện, thì chấp hành viên tiến hành cưỡng chế buộc giao người chưa thành niên hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.[1]



[1] Lê Vĩnh Châu, Xử lý trường hợp người được thi hành án không hoặc chưa tiếp nhận quyền trực tiếp nuôi con theo bản án, quyết định của Tòa án

https://www.tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/xu-ly-truong-hop-nguoi-duoc-thi-hanh-an-khong-hoac-chua-tiep-nhan-quyen-truc-tiep-nuoi-con-theo-ban-an-quyet-dinh-cua-toa-an

Liên hệ với Luật Đức An theo thông tin dưới đây để đặt dịch vụ pháp lý

Phí dịch vụ tư vấn theo giờ/ nội dung tư vấn

CÔNG TY LUẬT TNHH ĐỨC AN
Giám đốc: Luật sư PHẠM THỊ BÍCH HẢO
Địa chỉ: 64B, phố Nguyễn Viết Xuân, phường Khương Mai, quận Thanh Xuân, Hà Nội
ĐT liên hệ:  0902201233
Email:  luatsubichhao@gmail.com
Web: www.luatducan.vn